Tiến tới kỷ niệm
ngàn năm Thăng Long- Hà Nội, nhân dân Thủ đô anh hùng trong một nước Việt Nam mà
ra ngõ cũng gặp anh hùng đều đang hướng mọi hoạt động đầy ý nghĩa vào ngày lễ
hội lớn của dân tộc. Hòa mình vào không khí chung ấy nhưng không chút ồn ào, có
một người vẫn trầm lặng với công việc của mình, rong ruổi khắp đường phố Hà Nội
với chiếc máy ảnh cũ kỹ cùng cuốn sổ tay ghi chép chỉ để làm một việc: sưu tầm
vốn cổ dân tộc - Hoa sắt. Anh chính là họa sỹ Trần Hậu Yên Thế - Giảng viên khoa
Sư phạm Mỹ thuật, trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu- Hà Nội). Hãy
cùng lắng nghe những tâm sự của anh về loại hình nghệ thuật độc đáo này trong
buổi trò chuyện với đại diện ItaExpress.
Sự giao thoa
giữa hai nền văn hóa Đông - Tây
- Tại sao anh
lại chọn Hoa sắt để nghiên cứu?
+ Ở trường tôi
đang giảng dạy có một môn học mang tên “Nghiên cứu vốn cổ”. Theo tôi, muốn
nghiên cứu một “vốn cổ” thì cần phải tìm được đúng nét đặc trưng tích hợp của
Văn hóa Việt. Đó là lý do tại sao tôi chọn nghiên cứu Hoa sắt. Tuy nhiên, ngay
tại trường, tôi cũng không được nhiều người ủng hộ vì theo họ, đó là công việc
của bên Mỹ thuật Công nghiệp.
- Anh nghĩ ra
tên gọi“Hoa sắt” hay đó là cụm từ dùng chung của những người nghiên cứu loại
hình nghệ thuật này?
+ Bạn nghĩ sao?
Người Pháp gọi nó là “Lưới thép”, tôi nghĩ có thể thấy hoa văn trên sắt thép nên
gọi là “hoa sắt” - vừa ngắn gọn, dễ hiểu lại đầy tính biểu cảm.
- Anh đã gắn
bó với công việc này được bao nhiêu năm?
+ Có lẽ vào
khoảng những năm 90, tôi bắt đầu để ý đến hiện tượng này. Tôi lớn lên ở khu tập
thể ở xa trung tâm thành phố. Ở đó không có hoa sắt, chỉ có song sắt thôi. Và
tôi đã bị hút hồn vào một ô cửa sổ đẹp vào loại bậc nhất Đông Dương. Đó là hoa
sắt ở ngôi nhà vị hiệu trưởng đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương - ngài
Victor Tardieu.
Hơn mười năm nay,
tôi đi khá nhiều nơi, kể cả nước ngoài. Tới đâu tôi cũng dòm dòm ngó ngó để tìm
hiểu về loại hình văn hóa này. Sau mỗi chuyến đi, tôi lại nhận ra rằng, Hoa sắt
ít nhiều phụ thuộc vào văn hóa từng vùng.
- Xin anh lý
giải kỹ hơn điều đó…
+ Sự giao thoa
giữa hai nền văn hóa Đông - Tây đã tạo nên nét đẹp ấy của Hoa sắt Hà Nội. Nhưng
không phải sự giao thoa nào cũng đẹp. Trong hình học, chỉ khi hai đường tròn có
cùng đường kính giao nhau thì mới có một hình giao thoa cân đối. Tôi nhận thấy
văn hóa Việt Nam trong lần đối thoại đầu tiên với văn hóa phương Tây đã có một
vị thế ngang hàng.
Mong giữ lại
“của riêng còn một chút này”
- Theo anh,
lịch sử Hoa sắt có từ bao giờ và nó được du nhập vào Việt Nam như thế nào?
+ Theo các phát
hiện khảo cổ, từ 10.000 năm trước người Ai Cập đã biết dùng rìu sắt và thuổng để
xây dựng hầm mộ và cung điện. Ở Châu Âu, từ thế kỷ 17, các nghệ sĩ và thợ rèn đã
đưa Hoa sắt trang trí theo phong cách Barốc phát triển tới đỉnh cao huy hoàng
nhất. Tới trào lưu Tân nghệ thuật (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20), sắt thép hoá
thân thành hoa lá tạo nên vẻ diễm lệ, đài các cho các cánh cổng, hàng rào, lan
can, ban công, cầu thang...
Còn ở xứ ta cho
đến thời cận đại, sắt thép chỉ được dùng trong chế tác binh khí và công cụ sản
xuất nhưng hiếm thấy trang trí nội ngoại thất của các gia đình. Những làng
chuyên rèn sắt ở miền Bắc đều tôn thờ thánh sư Khổng Minh Không (thời Vua Lý
Thần Tông 1128 - 1138), tương truyền cũng là vị sư tổ nghề đúc đồng. Nhưng nghề
rèn vốn bị khinh rẻ là nghề hạ đẳng, chỉ biết làm cày, bừa, dao, kéo, rìu,
búa... Có lẽ vì thế mà sử sách cũng ít ghi danh các nghệ nhân nghề này!
Sắt thép vốn
không có trong kiến trúc người Việt đã mấy nghìn năm. Qua các bức ảnh tư liệu
chụp từ những năm đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội, những khu phố ta như Hàng Ngang, Hàng
Đào, Hàng Bông, Hàng Điếu... chủ yếu là vật liệu tre, gỗ. Không biết mất bao
lâu, trong cuộc đối thoại Đông - Tây, hai bên đã "phát hiện ra nhau" và rồi,
những người thợ sắt tài hoa đã nhanh chóng làm quen với kỹ thuật và cảm thức
phương Tây, tạo nên vô số cửa đi, cửa sổ, lan can, ô thoáng, cổng sắt. Biến thể
của các chữ Vạn, Thọ, Phúc trên các hoa văn cổng sắt, cửa sổ, cửa đi nói lên
những ước vọng gì đây? Ngắm nhìn những song Hoa sắt, ta thấy được cả số phận và
phẩm giá của Hà Nội. Những ngôi nhà tây đầu tiên ở Hà Nội hao hao kiến trúc nhà
ở Paris (hay một vùng nào trên đất Pháp). Hoa văn trên cầu Paul Doumer (cầu Long
Biên) do kiến trúc sư Pháp G.Eiffel thiết kế rất mới lạ với dân bản xứ. Nếu các
hoa văn theo thẩm mỹ Châu Âu truyền thống nặng tính kể tả, chú trọng cái hữu
hình, thì các hoa văn của phương Đông lại giàu giá trị tượng trưng, chú trọng
vào cái vô hình thể, sự trống rỗng.
- Anh có thể
nói rõ hơn về cách làm hoa sắt của người xưa?
+ Cách làm hoa
sắt thuở chưa có máy hàn được các người thợ kỹ lưỡng ghép sắt như ghép mộng gỗ
rồi chốt lại bằng đinh rivê, sắt đa phần uốn nóng, sau cùng được mài giũa cẩn
thận. Ông cha để lại cho chúng ta những kiệt tác như cổng Nhà khách Chính phủ,
Phủ Chủ tịch, Ngân hàng Trung ương, cánh cửa 48 Tăng Bạt Hổ, 91 Đinh Tiên Hoàng,
50 Phù Đổng Thiên Vương, 70 Bà Triệu (căn nhà biệt thự này mới bị phá năm 2006).
Và đặc biệt là cổng Đông Dương Học Xá ở 19 Lê Thánh Tông (xây từ 1923 đến 1925,
nay là Đại học Quốc gia). Theo Giáo sư - Hoạ sỹ Nguyễn Trọng Cát, có thể chữ I
và U lồng vào nhau là Institute Universitaire (Đại học Tổng hợp) hoặc Université
de Lindochine (Đại học Đông Dương).
- Hiện số
người nghiên cứu hoa sắt ở nước ta có nhiều không, thưa anh?
+ Không ít sách
nghiên cứu nhưng phần lớn họ lấy tư liệu từ nước ngoài. Rất ít người chịu tìm
tòi nghiên cứu ngay tại đất nước mình, tại nơi mình sinh sống. Điều đó khiến tôi
hơi buồn nhưng biết làm thế nào được! Không được hỗ trợ nên tôi chỉ nghiên cứu
một cách nhỏ lẻ vậy thôi. Nếu được chuyển thành một dự án lớn, có kinh phí đầu
tư thì tôi sẽ làm một cách quy mô hơn và sớm công bố công trình của mình với
mong muốn góp chút sức lực vào việc kỷ niệm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội. Tôi
đã từng tìm đến đội phá dỡ đồ cũ ở nghĩa trang Văn Điển (đường 70) để chụp ảnh
những cánh cửa được họ dỡ và đưa về đây. Chụp ảnh rồi nghiên cứu nó. Ngoài ra
tôi còn tìm đến những nhà chơi cửa cổ với mong muốn cùng họ giữ lại “của riêng
còn một chút này”.
Sẽ ra mắt cuốn
nghiên cứu “Đồ án hoa văn đền Vua Đinh - Lê”
- Anh có dự
định sẽ công bố công trình nghiên cứu Hoa sắt của mình không?
+ Tôi sẽ cho công
bố trong thời gian sớm nhất. Sắp tới đây tôi và họa sỹ Nguyễn Đức Hòa sẽ cho
công bố cuốn nghiên cứu “Đồ án hoa văn đền Vua Đinh- Lê”. Cuốn
sách này do Công ty Enter Việt Nam tài trợ. Tôi cũng xin bật mí là cuốn “Hoa
sắt Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” cũng đã chạm ngõ Enter Việt Nam rồi.
- Sinh viên
của anh có biết thầy đang nghiên cứu Hoa sắt không? Họ đón nhận công việc này
như thế nào? Và theo anh, giới trẻ đón nhận những di sản văn hóa dân tộc ra sao?
+ Tôi có thiết kế
mẫu áo phông in hình hoa sắt 42 Yết Kiêu. Sinh viên ai cũng thích nhưng không
biết hoa văn ấy từ đâu ra, mặc dù nó ở ngay trong sân trường mình. Tôi nghĩ cách
đặt vấn đề về di sản Mỹ thuật ở trường chưa được ổn lắm. Câu hỏi “di sản có
ích lợi gì cho công việc hiện nay?” không quan trọng bằng “công việc của
mình hiện nay có ích lợi gì cho di sản dân tộc?”. So với thời Mỹ thuật Đông
Dương, khung chương trình và phương pháp giảng dạy hiện nay “Tây học” hơn 80 năm
trước rất nhiều.
Cần có quyết
tâm và hành động cụ thể
- Theo anh,
cần làm gì để gìn giữ nét văn hóa truyền thống này?
+ Nghề sắt mỹ
thuật đất Hà Thành là một di sản văn hoá cần được tôn vinh. Chúng ta cần có
quyết tâm và hành động cụ thể để khôi phục diện mạo phố phường Hà Nội với hệ
thống Hoa sắt cực kỳ phong phú, cũng như nghề sắt mỹ thuật đã bị mai một. Công
việc này bắt đầu từ việc chụp ảnh, làm các bản dập, tiếp đến là công tác hệ
thống, xác định thời gian, phân loại đối chiếu với các hệ thống Hoa sắt ở Pháp
và Trung Hoa cùng thời gian đó, tiến hành khảo sát các phường thợ, các làng nghề
rèn ở Hà Nội. Bên cạnh đó, chúng ta nên chú trọng đầu tư cho những nghệ nhân làm
hoa sắt để họ giữ lại vốn cổ này. Ngoài ra cần có sự kết hợp của nhiều người,
nhiều ngành… mới hy vọng giữ lại được vốn cổ của ông cha.
- Xin cảm ơn
anh về buổi trò chuyện này!
Giáng Tiên
(theo ItaExpress)